Đêm Sài Gòn cũ, từ rạp chiếu đến quán mở muộn
Giải trí ban đêm ở Sài Gòn trước 1975 gồm rạp, phòng trà, vũ trường và quán có giờ giấc riêng. Bài lập bản đồ, không phải cẩm nang địa điểm.
Mục lục
30 bài · Toàn bộ bài biên tập trên Thời Xưa: nhạc vàng, Sài Gòn xưa và sử Việt.
Giải trí ban đêm ở Sài Gòn trước 1975 gồm rạp, phòng trà, vũ trường và quán có giờ giấc riêng. Bài lập bản đồ, không phải cẩm nang địa điểm.
Lam Phương bắt đầu viết từ khi còn trẻ và để lại một kho nhạc vàng đồ sộ. Ông mất tại Hoa Kỳ năm 2020.
Phòng trà là mô hình nghe nhạc của Sài Gòn: phòng nhỏ, dàn nhạc ít người, ca sĩ hát nhiều đêm trong tuần. Bài mô tả thiết chế ấy.
Bolero từ điệu nhảy Latin thành một nhánh của nhạc vàng. Bài lược lại đường đi của thể loại, không liệt kê lời ca.
Thập niên 1920, Gia Định, Sài Gòn và Chợ Lớn vẫn là ba thực thể khác nhau. Bài nhìn đô thị ấy qua đường phố và kiến trúc, không qua ảnh chép lại.
Cách đây khoảng bảy mươi năm, Thủ Thiêm vẫn là bán đảo vườn và bến đò bên kia sông Sài Gòn. Bài nhớ lớp địa lý ấy.
Chợ Trời là tên dân gian của một khu chợ trời Sài Gòn. Hàng hóa trước và sau 1975 khác nhau vì nền kinh tế khác nhau.
Cháo huyết, hủ tiếu, cà phê và gánh hàng là ký ức ẩm thực Sài Gòn. Bài ghi nếp ăn, không phục dựng công thức để kinh doanh.
Ngồi lệch một bên trên yên sau gắn với áo dài và cách lên xe ở đô thị miền Nam. Đó là thói quen trang phục, không phải một bí mật.
Thanh Tuyền là một giọng nữ nhạc vàng được nhớ qua cách ngân dài và qua các chương trình hải ngoại. Không nhắc cát-xê chưa đối chiếu.
Chụp ảnh gia đình dịp Tết là một dịch vụ studio ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định những năm 1960–1970.
Phòng trà Sài Gòn nuôi một lớp ca sĩ hát đêm. Huỳnh Ngọc Bình nằm trong trí nhớ ấy. Bài không kể lại tin đồn.
Mỹ Thể được người yêu nhạc xưa nhớ như một giọng nữ của Sài Gòn trước 1975. Bài viết giữ mức tư liệu, không thêu tiểu sử.
Thời bao cấp, có những việc hôm nay coi là việc nhà — mổ lợn, chuyển hàng — lại cần đơn và tem phiếu. Bài kể cơ chế, không chế giễu người đã sống trong đó.
Phạm Duy để lại một khối lượng tân nhạc rất lớn, từ tình ca đến trường ca. Bài lược sự nghiệp, không chép ca từ và không kể chuyện tình giật gân.
Chữ Nôm ghi tiếng Việt bằng yếu tố Hán. Chữ Quốc ngữ là chữ Latin. Bài lược con đường cả hai cùng tồn tại rồi đổi ngôi.
Đèn khuya đi vào nhạc vàng như một bài về người mẹ thức khuya. Bài viết nói về đề tài, không đăng lời và không đăng sheet.
Tình buồn là tình khúc chia ly thường gắn với nhạc sĩ Đỗ Lễ. Bài điểm hoàn cảnh cảm xúc, không sao chép ca từ.
Trịnh Công Sơn viết về tình yêu, chiến tranh và thân phận. Bài điểm các mốc đã rõ, không biến tiểu sử thành hồ sơ bí mật.
Phượng Hoàng là một ban nhạc trẻ của Sài Gòn trước 1975, thường được nhớ như cánh chim đi ngược dòng nhạc vàng.
Một lát cắt về nhạc trẻ đô thị: phòng trà, ban nhạc học đường, và nghề làm đàn guitar điện ở Chợ Lớn.
Buồn trong kỷ niệm thường được gắn với Trúc Phương. Bài này giữ lại chủ đề ký ức, không trộn ca từ với thơ của người khác.
Đài Phương Trang viết nhiều ca khúc nhạc vàng. Căn nhà dĩ vãng thuộc nhóm bài về một ngôi nhà và một thời đã qua.
Duy Khánh là danh ca nhạc vàng, giọng gắn với bài về người lính và làng quê. Chân dung ngắn, không kể chuyện chưa kiểm được.
Nhạc phẩm thường được xem là tác phẩm cuối của Đặng Thế Phong, viết khi ông nằm bệnh năm 1942. Bài này kể hoàn cảnh, không chép lời.
Đỗ Hữu Vị phục vụ trong không quân Pháp những năm 1910 và tử trận năm 1916. Ông thường được nhắc như phi công Việt Nam đầu tiên.
Hoa nở về đêm gắn với Mạnh Phát, người vừa hát vừa viết trong dòng nhạc vàng. Bài phân vai ca sĩ và vai tác giả, không đăng lời.
Năm 1883–1884, ngôi vua Huế đổi ba lần trong khoảng bốn tháng: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc. Bài đặt sự kiện vào áp lực của thực dân Pháp.
Phải lòng con gái Bến Tre là ca khúc nhạc vàng thường gắn với Phan Ni Tấn và với hình ảnh Bến Tre. Bài nói hoàn cảnh, không chép lời.
Đặng Thế Phong mất năm 1942. Vài bài ông để lại trở thành mốc của tân nhạc, trong đó có Giọt mưa thu.